Sign up
ĐAM MÊ
baothy | 03 Dec, 2011, 06:19 | Chung | (19 Reads)

ĐAM MÊ

 

Không vì

Một chút đam mê

Có đâu?

Trăng lạc trời về biển xa

Đành rằng

Em của người ta

Anh-hàng Long não

Nhạt nhòa

Mưa giăng...

 

Chiều nghiêng

Sợi nắng tang bồng

Em nghiêng

Gót nhỏ...bụi hồng nhẹ bay

Anh nghiêng

Một tấm thân gầy

Chắt chiu

Từ thuở...

Em thay áo tình.

           PHAN BÙI BẢO THY

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=340662

GỬI CÙNG HÀ NỘI
baothy | 12 Nov, 2011, 07:57 | Chung | (7 Reads)

GỬI CÙNG HÀ NỘI

 

Gửi cùng Hà Nội sáng nay

Những suy tư, những tháng ngày mộng mơ

Đẫm trong bóng khói sa mù

Hương hoa phố Nguyễn xóa mờ dấu chân

 

Ru đời ngụm rượu làng Vân

Em cơ hồ đáy cốc dần hiện lên

Ngủ vùi ngõ phố không tên

Gọi em, chợt tỉnh em biền biệt xa…

 

Gửi cùng Hà Nội sân ga

Câu thơ lỡ nhịp khúc ca lạc ngày

Cuộc tình vỡ nát trên tay

Nhịp cầu mơ nối đường ray song hành

 

Gửi cùng Hà Nội trời xanh

Nghìn năm in bóng giữa thành quách xưa

Gửi cùng Hà Nội cơn mưa

Có tôi và bóng em vừa vỡ tan…

 

                              PHAN BÙI BẢO THY

 

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=336779

Nghệ nhân La Cháu - Ngọn hải đăng của tuồng cung đình Huế
baothy | 04 Oct, 2011, 07:29 | Chung | (8 Reads)

Nghệ nhân La Cháu- Ngọn hải đăng của tuồng cung đình Huế

LẶNG LẼ NGHỀ RIÊNG

Những năm đầu của thế kỷ XX, tại kinh đô Huế, nhân dân vẫn rất hâm mộ tuồng, thời kỳ này có đến 14 rạp hát tuồng tại Huế, chưa kể đến những nhà hát ở cung đình. Tại các phủ đệ của các ông hoàng, bà chúa vẫn có những rạp hát tuồng riêng để thu hút những nghệ nhân giỏi… Một trong những người còn duy trì tuồng của cung đình cho đến bây giờ là nghệ sĩ La Cháu. 

 Lần về Huế công tác gần đây, nhiều người bạn của tôi đang sinh hoạt trong Hội Nhà văn tỉnh Thừa Thiên Huế bảo rằng: "Ông nên viết cái gì đó về nghệ nhân La Cháu để tưởng nhớ ông, vì đó là một trong những người rất hiếm hoi có công lớn trong việc bảo tồn, phục dựng và lưu truyền một cách xuất sắc những di sản nghệ thuật âm nhạc của cung đình Huế. Ông ấy là người luôn được giới nghiên cứu các loại hình nghệ thuật truyền thống nể trọng và được xem là ngọn hải đăng của bộ môn nghệ thuật tuồng cung đình Huế…".

Nghệ nhân La Cháu sinh năm 1911, ở làng Hà Trung, xã Vinh Hà, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế. Từ năm lên 8 tuổi, ông được thân phụ là nghệ nhân La Ngạn - một nghệ nhân tuồng và múa hát cung đình Huế cho vào Đại Nội để học tuồng trong lớp đồng ấu ở Thanh Bình Thự (Trước có tên là Trường Xuân, là trường dạy diễn viên tuồng quy mô đầu tiên ở nước ta, được thành lập dưới triều vua Minh Mạng vào năm 1823, đến đời vua Thành Thái đổi tên là Võ Can Thự cho đến cuối đời Khải Định, đầu đời vua Bảo Đại đổi tên là Trường Thanh Bình - NV) với các thầy Quảng Phước, thầy Đội Em, những nghệ nhân tuồng nổi tiếng dưới triều vua Thành Thái.

Với niềm đam mê nghệ thuật tuồng đến cháy bỏng cộng với sự dạy bảo tận tình nhưng rất khắt khe của các thầy, ông đã từng ngày tiến bộ. Lúc đầu, ông học những vai diễn "kép con" và ngay từ những năm tháng nhỏ tuổi ấy, ông đã thể hiện rất xuất sắc vai Trịnh Ấn con trai của Trịnh Ân trong vở tuồng Trịnh Ân.

Tài năng của ông ngày càng được khẳng định qua những vai diễn để đời cho các thế hệ kế tiếp noi theo và học tập như: vai Phàn Định Công, Tạ Ôn Đình và Linh Tá trong vở tuồng Sơn Hậu; Lưu Khánh trong vở tuồng Tống Địch Thanh; Tiết Cương và Võ Tam Tư trong vở tuồng Hộ Sanh Đàn; Yêu Cá và Vua đói trong vở tuồng Lý Phụng Đình; Tạ Ngọc Lân trong vở tuồng Ngọn lửa Hồng Sơn... Có thể nói rằng, nghiệp tuồng đối với ông đã trở thành máu thịt, đã trở thành lẽ sống. Vì lẽ đó mà có lần ông đã nói vui với mọi người rằng: "Trong nhà này, hễ đứa nào không biết hát tuồng là không phải con tui".

alt

Nghệ nhân La Cháu cùng con gái La Cẩm Vân.

Sinh thời, trong những cuộc trà dư tửu hậu, trong những cuộc hội họp bạn nghề nhiều thế hệ, ông vẫn thường kể lại rằng: Ngày xưa, những nghệ nhân hát tuồng như ông rất được các ông vua, bà chúa coi trọng, hàng tháng ông cùng những đồng nghiệp của mình vẫn thường nhận được những khoản bổng lộc của triều đình nhà Nguyễn ban tặng.

Hôm nào đoàn có chương trình diễn tuồng tại nhà hát Duyệt Thị Đường (sân khấu trong hoàng cung) cho triều đình và các quan cận thần xem thì tất cả các thành viên trong đoàn đều rất thích thú, vì chắc chắn rằng hôm đó mọi người sẽ được thưởng… ý thức được những khán giả ngồi xem mình biểu diễn không phải là những khán giả bình thường mà toàn là những con người đặc biệt, nên ai nấy đều cố gắng tạo cho mình một ấn tượng tốt trên sân khấu.

Để có một chương trình biểu diễn thành công ở Nhà hát Duyệt Thị Đường lúc đó, ngoài việc tập trung với các đồng nghiệp, tất cả các diễn viên phải tự tập riêng vai diễn của mình. Thường là hàng ngày vào buổi sáng trước khi tập vũ đạo, diễn viên phải tự luyện giọng bằng một phương pháp rất cổ điển là chúi đầu vào trong những cái lu rất to để tập hét, hát cho đến lúc nào khản giọng thì thôi. Có hôm chui đầu vào lu luyện giọng hăng quá đến tối về ngồi nói chuyện với người thân mà giọng đặc rền như vịt đực, tai thì cứ nghe vi vo những tiếng ù ù…

Thời nhà Nguyễn, nghệ thuật tuồng phát triển vô cùng rực rỡ, đặc biệt là dưới triều vua Tự Đức, nghệ thuật tuồng được phát triển mạnh hơn ở rất nhiều phương diện. Nhà vua cho xây dựng thêm nhà hát tuồng Minh Khiêm Đường - nhà hát tại Khiêm cung của vua Tự Đức, được xây dựng từ năm 1864 để nhà vua thưởng thức tuồng những lúc lên đây nghỉ ngơi, hưởng lạc.

Thanh Bình Thự vẫn được duy trì và phát triển. Một tổ chức đáng lưu ý về sự phát triển văn học dưới triều Tự Đức là việc thành lập Ban Hiệu thư - một tổ chức chuyên sáng tác, nhuận sắc, chỉnh lý, hiệu đính tuồng dưới sự điều khiển của chính nhà vua. Đào Tấn là người rất được vua Tự Đức tín nhiệm, được sung vào Ban Hiệu thư khi còn rất trẻ, thụ hàm Kiểm tịch và ông đã sáng tác nhiều vở tuồng trong giai đoạn này.

Những năm đầu của thế kỷ XX, tại kinh đô Huế, nhân dân vẫn rất hâm mộ tuồng, thời kỳ này có đến 14 rạp hát tuồng tại Huế, chưa kể đến những nhà hát ở cung đình. Tại các phủ đệ của các ông hoàng, bà chúa vẫn có những rạp hát tuồng riêng để thu hút những nghệ nhân giỏi…  

Sau khi Bảo Đại, vị vua cuối cùng triều Nguyễn, thoái vị, Huế mất vị trí là kinh đô của cả nước. Tình hình hoạt động ngành tuồng ở Huế lâm vào tình trạng hỗn tạp. Trường Thanh Bình tan rã. Ở Đại Nội chỉ còn duy trì đoàn tuồng Ba Vũ với sự yểm trợ của bà Từ Cung (mẹ vua Bảo Đại). Kháng chiến toàn quốc bùng nổ tháng 12/1946, nghệ thuật tuồng cũng bị ảnh hưởng trầm trọng.

Ở Huế, sau một thời gian lộn xộn, tuồng được phép tiếp tục hoạt động. Nhưng các rạp hát dần vắng khách, chỉ còn lại rạp Đồng Xuân Lâu nằm trên đường Phan Đăng Lưu bây giờ là còn hoạt động. Nghệ nhân La Cháu đã kể về giai đoạn này như sau: Sau khi triều đại phong kiến nhà Nguyễn bị sụp đổ, tuồng Huế cũng theo đó mà chìm vào lãng quên, cuộc sống của nhiều nghệ nhân tâm huyết với tuồng cũng theo đó mà gặp nhiều khốn khó.

Thế nhưng, ngọn lửa đam mê môn nghệ thuật tuồng cung đình này trong mỗi con người vẫn âm ỉ cháy. Vậy là, hằng đêm những nghệ nhân tuồng lại tụ tập cùng nhau ở rạp hát Đồng Xuân Lâu để diễn tuồng. Một phần là để thỏa nỗi đam mê nghệ thuật, phần quan trọng khác là để kiếm chút tiền mọn đắp đổi qua ngày trong cuộc mưu sinh.

Ngày đó, các nghệ sĩ không tiếp thị vở diễn như kiểu bây giờ mà cứ chiều đến là họ vẽ mặt, đeo râu, rồi ăn vận phục trang giống y hệt các vai diễn tướng, tá của họ trên sân khấu, rồi mỗi người ngồi lên một chiếc xích lô, trống đánh kèn thổi chạy rông khắp các ngã đường trong Đại Nội để quảng cáo, giới thiệu vở diễn nhằm thu hút người dân đến rạp xem tuồng.

Nặng lòng với tuồng cung đình Huế và khao khát môn nghệ thuật độc đáo này được gìn giữ cho đến mai sau, từ năm 1968, nghệ nhân La Cháu đã cùng với những người bạn đồng nghiệp của mình mở ra một trường nghệ thuật đồng ấu, nhằm đào tạo và thổi vào tâm hồn lớp trẻ niềm đam mê đối với nghệ thuật tuồng. Với ông, để thu hút được người xem và bảo tồn được nét cổ của tuồng cung đình Huế thì người nghệ sĩ không chỉ hát hay, múa đẹp mà bên cạnh đó còn cần đến trang phục diễn thích hợp.

Năm 1976, ông đã cùng với nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba bắt tay vào việc phục chế trang phục tuồng từ áo mão, cân đai cho đến hia hài. Khi không còn tuổi diễn trên sân khấu, nghệ nhân La Cháu đã tham gia giảng dạy bộ môn nghệ thuật tuồng và múa hát cung đình tại Trường Trung học Văn hóa - Nghệ thuật tỉnh Thừa Thiên Huế.

Nhiều thế hệ học trò của ông đã thành danh và khẳng định được tài năng xuất sắc của mình qua từng vở diễn như: NSƯT Bạch Hạc, NSƯT Chánh Huề, NS Thanh Long, Diệu Hy, Thu Vân… trong đó có những học trò đặc biệt là con, cháu của ông như: NSƯT La Cẩm Vân, nghệ nhân La Nguyên, đạo diễn La Hùng và 3 người cháu nội là La Tuấn, La Phước Cường, La Thanh Hải đang từng ngày nối gót ông để bảo tồn và phát triển nghệ thuật tuồng và múa hát cung đình Huế.

Ông rất hạnh phúc mỗi khi nhìn thấy con, cháu của mình say sưa trên sân diễn như trong vở Quan Công cử binh. La Hoàng Nguyên vào vai Quan Công; La Thanh Hùng vào vai Châu Sương và Thu Thủy vào vai Quan Bình. Trong liên hoan các trích đoạn tuồng hay toàn quốc năm 1993, sáu cha con trong gia đình nghệ nhân La Cháu tham dự thì có đến 5 giải thưởng: 2 giải đặc biệt, 1 huy chương vàng, 2 huy chương bạc.

Năm 2005, ông được Bộ Văn hóa - Thông tin và UBND tỉnh Thừa Thiên Huế tặng bằng khen vì có công phục chế phục trang biểu diễn tuồng Huế. Năm 2007, ông được phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú và năm 2010, ông được nhận Giải thưởng Cố Đô của Liên hiệp các Hội Văn học - Nghệ thuật Thừa Thiên Huế.

Trong suốt cuộc đời mình, với hơn 90 năm gắn bó với nghệ thuật tuồng, ngoài việc diễn trong sân khấu của hoàng cung để đem đến niềm vui cho vua, quan triều đình nhà Nguyễn, ông còn đi nhiều nơi khác để thể hiện tài năng xuất chúng của mình.

Ông đã từng diễn tuồng ở Đan Mạch, Thụy Điển trong những chương trình trao đổi, giao lưu văn hóa cấp nhà nước. Ông đã hóa thân mình vào hàng trăm vai diễn cả chính diện lẫn phản diện, ở vai diễn nào ông đều hút hồn người xem bằng tài nghệ thiên phú của mình. Điều đặc biệt là dù diễn vai gì đi chăng nữa chính ông cũng là người tự vẽ mặt cho mình và ông có thể vẽ rất giỏi cả hai tay.

Năm 94 tuổi, trong hai tháng ròng rã, ông đã vắt hết sức mình để vẽ 100 mặt nạ tuồng cổ như Tam quốc, Tây du, Đào Phi Hồng, Tiết Cương, Sơn hậu, Trần hương các, Đông Chu liệt quốc, Tam nữ đông vương… những tác phẩm này của ông đã được in thành sách và đoạt giải thưởng của Hội Văn học - Nghệ thuật Thừa Thiên Huế.

Những năm tháng cuối đời, ông về sống cùng người cháu nội cũng là một nghệ sĩ âm nhạc cung đình Huế, trong căn nhà nằm trên đường Đặng Huy Trứ, thuộc phường Trường An - TP. Huế. Dù tuổi tác thuộc vào hàng xưa nay hiếm, nhưng ông luôn vui vẻ, tinh tường và hóm hỉnh. Ông thường nói với con cháu của mình rằng, nghiệp tuồng đã cho ông rất nhiều bài học quý giá, đó là lòng nhân ái, bao dung, lòng trung thành, hiếu thảo, lòng dũng cảm, kiên cường…những đức tính ấy sẽ chắp cánh cho con người lớn lên…

Ngày 23/7/2011, nghệ nhân, NSƯT La Cháu, người biểu diễn tuồng cung đình triều Nguyễn cuối cùng đã ra đi mãi mãi ở tuổi tròn 100. Sự ra đi của ông là một mất mát lớn lao của giới tuồng cổ Huế, các nhà nghiên cứu, học giả và sinh viên quan tâm đến nghệ thuật tuồngalt

  Phan Bùi Bảo Thi
Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=327973

CHÚC MỪNG SINH NHẬT CON TRAI PHAN BÙI QUỐC ANH
baothy | 24 Aug, 2011, 07:55 | Chung | (42 Reads)

altaltaltaltaltaltaltaltalt

 

 

alt

 

alt

  

  

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=319060

BÊN KIA ÁNH LỬA
baothy | 07 Jul, 2011, 21:09 | Chung | (51 Reads)

BÊN KIA ÁNH LỬA

 

Phía bên kia ánh lửa

                          trái tim

Mặt đất xanh màu tóc mẹ

Con huyễn hoặc một thời trai trẻ

Trên thập giá guộc gầy

Chân lý

Hư vô

 

Phía bên kia ánh lửa

                         câu thơ

Trách cá ruộng kho khô

Tấm áo sờn vai đời mẹ

Con huyễn hoặc một thời trai trẻ

Phiên chợ nào ngã giá dấu chân con?

 

Phía bên kia ánh lửa

                          tàn đêm

Thánh địa xôn xao

Tiếng hú buồn quỷ sứ

Chân - Thiện - Mỹ trần truồng kệch cỡm

Rô bốt tân thời điều khiển từ xa

 

Phía bên kia ánh lửa

                          phôi pha

Lũ diều hâu hí hửng

Thiên táng cuộc đời trong niềm mặc tụng

Những tấm lưng trần

Góc núi

Sương sa...

                    Huế 29 - 06 -1994

                   PHAN BÙI BẢO THY

 

                      

 

 

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=309494

Thành Cổ và em
baothy | 25 May, 2011, 20:38 | Chung | (61 Reads)

Thành Cổ và em

Mai đành xa thôi Thành Cổ và em

Đành xa đá rêu một thời vó ngựa

Câu hát thương yêu khoảng trời hai đứa

Mai đành xa thôi Thành Cổ và em

 

Đêm nhớ khôn nguôi nỗi buồn động vọng

Ai nắm tay ai bước xuống chân thành

Xin gửi cho người bên kia Thạch Hãn

Một trời đầy thơ và mây rất xanh

 

Sẽ một ngày kia mắt huyền khép lại

Trong cõi vô thường chiếc lá thu rơi

Con nước dập dềnh chân trời xa ngái

Ta hát tang tình em ơi...em ơi...

 

mai đành xa thôi nghiêng bình rượu cạn

Chim bay về trời, cá khóc tìm sông

Thành Cổ và em lưng chiều lãng mạn

Hóa đóa phiêu bồng giữa cõi bâng khuâng

                       Thành Cổ Quảng Trị, 9-1995

                           PHAN BÙI BẢO THY

 

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=300491

TUỔI THƠ DỮ DỘI TRÊN MIỀN ĐẤT ANH HÙNG
baothy | 08 May, 2011, 16:52 | Chung | (46 Reads)

Dũng sĩ Nguyễn Tấn Lực

TUỔI THƠ DỮ DỘI TRÊN MIỀN ĐẤT ANH HÙNG

 

   Sau mấy lần hẹn hò qua điện thoại, một ngày đầu xuân, tôi tìm đến căn nhà nằm bên đường Ngũ Hành Sơn – Đà Nẵng, để tìm gặp một người đã từng 4 lần được phong tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ và Dũng sĩ diệt xe cơ giới trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thần thánh của dân tộc. Ra đón tôi tận cổng là một người đàn ông có vóc người thấp nhỏ, nụ cười hiền lành , dễ mến…thoạt nhìn không ai có thể hình dung được trong những năm tháng đang ở độ tuổi thiếu niên, người đàn ông này đã là nỗi ám ảnh của những đơn vị lính viễn chinh Mỹ khổng lồ đóng quân ở căn cứ quân sự Đà Nẵng và nhiều quan chức ngụy quyền ở địa phương có nợ máu với nhân dân và cách mạng…

   Ông là Dũng sĩ Nguyễn Tấn Lực, sinh năm 1952 ở làng Đông Trà, xã Hòa Long, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng. Năm 1964, lúc mới 12 tuổi ông đã tham gia vào Đội Thiếu niên tiền phong của xã Hòa Long và được các chú, các anh Du kích xã tín nhiệm bầu làm Đội trưởng. Ông kể, ngày ấy, Đội Thiếu niên tiền phong xã Hòa Long do ông làm Đội trưởng có nhiều thành viên lắm, nay người còn thì rất ít mà những người đã khuất thì nhiều. Tất cả an hem trong đội đều tham gia công tác rất hăng say, những công việc như cắm chông, đào giao thông hào, làm hàng rào, cảnh giới cho những cuộc họp…được Du kích xã hay Hội phụ nữ xã giao phó đều được  hoàn thành một cách xuất sắc.

 

   Đến thời điểm năm 1965, khi lính Mỹ đổ bộ vào chiến trường Việt Nam thì tình hình hoạt động của các tổ chức cách mạng ở địa phương bắt đầu gặp phải những khó khăn đáng kể. Sau khi đổ quân xuống Đà Nẵng, Quân đội Mỹ đã chọn khu vực chợ Non Nước bây giờ làm nơi tập kết hàng nghìn chiếc xe tăng để sẵn sàng chi viện cho những điểm nóng chiến sự. Ở khu vực Cồn Bồ (gần cống ông Tiềm) có một đơn vị lính Mỹ rất lớn đóng quân, gần đó, ở ngã tư Điện Ngọc (thuộc huyện Điện Bàn) cũng một đơn vị Mỹ khác được trang bị pháo tầm xa 105 ly án ngữ. Vừa rót nước mời tôi uống, ông vừa nhớ lại: Đó là những ngày tháng thật buồn, bà con nhân dân trong vùng đều bị chính quyền địa phương lúc bấy giờ lùa vào sống trong các khu tập trung ở chợ Non Nước và chợ Cai Lanh. Những con đường đất đỏ nối giữa Non Nước với Điện Ngọc dường như vắng hẳn bóng dáng của người dân địa phương, nhường chỗ lại cho từng đoàn xe quân sự của Mỹ ngày đêm gầm rú. Năm ấy, Nguyễn Tấn Lực tròn 13 tuổi, sống hợp pháp ở quê nhà nên không tránh khỏi cảnh phải bị dồn vào sống trong khu tập trung ở chợ Non Nước. Theo hướng dẫn của các chú du kích, hàng ngày Nguyễn Tấn Lực lang thang tìm đường lên núi Đùng (ngọn núi cao nhất trong cụm núi Ngũ Hành Sơn) để làm quen và sống với đám lính Mỹ thuộc hai đơn vị Mo – Rin (lính đánh bộ) và Á Mỳ (lính dù). Cuối ngày kiếm chút ít đồ hộp mang về dùng, những lúc thấy lính Mỹ mất cảnh giác thì lấy lựu đạn hoặc mìn mang về cho du kích. Cứ thế, vài ngày Nguyễn Tấn Lực lại tìm về vùng căn cứ lỏm để gặp gỡ và nhận nhiệm vụ từ du kích xã. Một lần về báo cáo tình hình, ông nghe các chú lãnh đạo du kích bàn bạc chuyện phải đánh cho bằng được tên ác ôn khét tiếng Huỳnh Bá Đoan. Được dịp, Nguyễn Tấn Lực nằng nặc xin lãnh đạo du kích xã cho ông được thực thi nhiệm vụ. Được các chú du kích xã tin tưởng đồng ý, ông khẩn trương nhận kíp hẹn giờ và thuốc nổ để mang về cất giấu chờ thời cơ hành động. Hồi đó, Nguyễn Tấn Lực ở trọ trong nhà của ông Hương Ba. Con gái ông Hương Ba là chị Tươi cũng hoạt động trong lực lượng du kích nhưng Nguyễn Tấn Lực không hề hay biết. Sau khi quan sát kỹ những di biến động của những thành viên trong Hội đồng xã do Huỳnh Bá Đoan làm xã trưởng và đám lính nghĩa quân ở khu vực chợ Non Nước. Nguyễn Tấn Lực quyết định chọn quán cháo lòng của bà Bốn Hinh là nơi Huỳnh Bá Đoan và thuộc cấp của hắn thường ăn sáng để hành động. Đêm đó, Nguyễn Tấn Lực đã đóng đinh dưới gầm bàn trong quán bà Bốn Hinh để treo thuốc nổ, chờ sáng hôm sau sẽ cắm kíp hẹn giờ…Không ngờ rằng, cũng trong đêm đó, chị Tươi nhận nhiệm vụ tiêu diệt tên Huỳnh Bá Trân cũng là một tên ác ôn khét tiếng làm việc trong lực lượng cảnh sát huyện Hòa Vang có nhà nằm sát nách với nhà ông Hương Ba. Mìn nổ, căn nhà của Huỳnh Bá Trân sập hết hai phần ba, nhưng hắn chỉ bị thương nên sau đó được xe của lính Mỹ chở ra quân y viện Duy Tân - Đà Nẵng cấp cứu. Ngay trong đêm đó, rất nhiều lính Mỹ cùng với Trung đoàn 51 ngụy đóng quân ở xã Hòa Phụng (nay là phường Hòa Quý, quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng) tức tốc kéo về bao vây kín khu vực vừa có tiếng nổ. Sáng hôm sau, chúng lục soát nhà ông Hương Ba và phát hiện chiếc kíp nổ của Nguyễn Tấn Lực giấu ở dưới hầm tránh pháo. Ngay lập tức ông Hương Ba và chị Tươi bị bắt giải lên ủy ban xã tra tấn đến chết đi sống lại. Nguyễn Tấn Lực thấy lính Mỹ khám nhà tìm ra kíp hẹn giờ và thuốc nổ của ông cất giấu nên hết sức lo lắng. Sau thời khắc định thần, ông quyết định chạy đến tháo cổng một cái chuồng bò, rồi lùa bò đi ra đồng cỏ. Thoát ra khỏi vòng kiểm soát của giặc, ông chạy một mạch về vùng căn cứ lỏm để báo cáo tình hình cho du kích. Ông khẳng định mọi chuyện đã bị lộ, bây giờ ông không thể trở về sống ở vùng chợ Non Nước được nữa, ông xin lãnh đạo du kích xã cho ông vào du kích. Nhưng các chú lãnh đạo bảo rằng “Cháu còn quá nhỏ, súng còn đeo chưa được làm sao mà vào du kích”. Rồi hướng dẫn, tổ chức cho ông về sống ở vùng chợ Cai Lanh, nơi có rất nhiều lính Mỹ đóng quân. Tại đây, ông được bố trí vào ở nhờ trong nhà của bà Tám Em và nhà bà Kỉnh là những cơ sở tin cậy của ta. Ông được cấp 5 kíp nổ hẹn giờ cùng với lượng thuốc nổ tương thích để có thể hành động bất cứ lúc nào nếu có thời cơ. Gần chợ Cai Lanh có một đồn lính Mỹ quân số khoảng một đại đội đóng ở phía Tây. Ở phía Đông có một lô cốt, bên trên lô cốt có tháp canh được trang bị súng đại liên và ống nhòm tia hồng ngoại. Một hôm, ông thấy có rất nhiều lính Mỹ được trang bị đến vài chục chiếc xe máy cày ầm ầm cày xới những hàng cây, bụi rậm, ruộng vườn và mồ mả ở làng Hòa Hải. Thấy vậy, ông quyết định bằng mọi cách phải đánh, nhưng không biết phải mang thuốc nổ đến điểm đánh bằng cách nào? Cuối cùng, ông quyết định rất táo bạo là giấu 2kg thuốc nổ loại C4 của Liên Xô vào bụng, rồi lấy cái nón cời úp lên, sau đó mở chuồng bò đánh 4 con bò đi ra phía có xe Mỹ đang cày. Lợi dụng lúc người dân Hòa Hải đang nhốn nháo đấu tranh, ông leo lên phía sau xe cày của Mỹ đặt thuốc nổ rồi cắm kíp hẹn giờ một quả 30 phút, một quả 15 phút. Đúng giờ, mìn nổ, hai chiếc xe cày cùng với 4 lính Mỹ tan xác. Cả người dân trong vùng lẫn lính Mỹ đều nhốn nháo hoang mang, không hiểu vì sao mìn lại nổ từ trong những chiếc máy cày. Từ đó, Mỹ dừng luôn việc cày phá ruộng vườn của người dân Hòa Hải. Sau trận này, ông về vùng căn cứ để báo cáo với du kích, lãnh đạo du kích xã đã rất khen ngợi lòng dũng cảm của ông và ghi nhận chiến công này một cách xuất sắc. Một thời gian sau, quân đội Mỹ ở khu vực này có chính sách vận động người dân nếu thấy Việt cộng hoặc thấy mìn, súng đạn của Việt cộng thì chỉ cho nó để nhận thưởng. Ngay lập tức ông bàn với những thiếu niên trong vùng phải lợi dụng chính sách này để kiếm đồ hộp để ăn, kiếm tiền để tiêu, đồng thời dụ Mỹ để đánh. Sau khi báo cáo cách làm cho du kích, ông thường xuyên đi về vùng căn cứ để xin những quả đạn cối 81 do Trung Quốc sản xuất mà bộ đội chủ lực và du kích dùng để pháo kích địch bị thối không còn sử dụng được mang về. Có những quả đạn hỏng mang chữ Trung Quốc này trong tay, ông cùng với những thiếu niên trong vùng đào hố để chôn những quả đạn này xuống, rồi ngụy trang giống y như cách Việt cộng gài mìn. Cứ thế, ban đêm chôn, ban ngày đón xe Mỹ để chỉ. Cứ mối quả như vậy ông và những người bạn của mình được nhận thưởng vài chục nghìn đồng tiền ngụy. Sau vài lần như thế, ông quyết định đánh. Kế hoạch của ông đã được chú Đức lúc đó là xã đội trưởng đồng ý (nay ông Đức đang sống tại xã Hòa Phước, huyện Hòa Vang, TP. Đà Nẵng) và một chú xã đội phó đưa cho ông một quả đạn đã có sẵn thuốc nổ bên trong để ông mang về. sáng hôm sau, chờ lúc xe Mỹ đến, ông cắn kíp nổ rồi chỉ cho lính Mỹ và bảo rằng ông thấy Việt cộng làm rơi quả đạn này trên đường di chuyển. Bốn gã lính Mỹ cao lớn nhào đến xem quả đạn, nhìn vào bên trong thấy có kíp nổ, nhưng chúng không sợ vì sau khi đã hỏi đi, hỏi lại, ông vẫn khẳng định là đã nhìn thấy quả đạn này cách đây 2 ngày rồi. Cho ông một ít tiền xong, cả bốn lính Mỹ cùng lên xe jeep và mang theo quả đạn về đơn vị trong tâm trạng hớn hở như vừa lập nên một chiến tích. Chiếc xe jeep lăn bánh chừng chưa đầy 10 phút thì một tiếng nổ long đất vang lên. Cả chiếc xe cùng bốn lính Mỹ tan tành không còn nguyên vẹn. Ông được các chú lãnh đạo du kích hết lời ngợi khen, trong khi đó bọn Mỹ thì không thể lý giải được vì sao chiếc xe hành quân của chúng lại bị nổ tung khi đang chạy trên đường.

   Thời gian này tình hình chiến sự hết sức căng thẳng, du kích điaạ phương lại không được chi viện vũ khí một cách đầy đủ để phục vụ công tác chiến đấu. Thấy vậy, ông đề xuất kế hoạch đột nhập lô cốt của Mỹ ở các đồn quanh chợ Cai Lanh để lấy súng. Vậy là, một mình ông với chiếc kềm nhỏ trong tay, ông đã lần lượt cắt hết lớp kẻm gai này đến lớp kẻm gai khác quanh đồn giặc để đột nhập vào lấy súng. Có những lần ông đang luồn người trong cỏ, phát hiện thấy mìn Clay-mo của lính Mỹ gài, ông phải nín thở để tháo kíp, rồi để nguyên từng quả mìn như vậy cho Mỹ khỏi nghi ngờ. Suốt hai tháng trời ròng rã, một mình ông đã mang về cho du kích 11 khẩu súng trong đó có 9 khẩu súng AR15, 1 khẩu M79 và 1 khẩu Colt 45. Với một số lượng súng bị lấy cắp như vậy là không phải nhỏ nên lính Mỹ trong đồn rất bực bội, chúng quyết tâm giăng bẫy để tóm cổ bằng được kẻ đã đột nhập lấy súng. Qua khảo sát, ông thấy lính Mỹ giăng lựu đạn khắp nơi trên rào thép gai và có nhiều biểu hiện để hớ hênh tài sản và súng đạn. Trước tình thế ấy, ông báo cáo với du kích và khẳng định không thể tiếp tục thực hiện việc lấy súng của địch đánh địch được nữa mà ông mạnh dạn đề xuất phương án đánh luôn lô cốt và tháp canh của Mỹ. Tin tưởng nhiều ở ông, du kích đã chuẩn bị cho ông một thùng thuốc nổ loại C4 dẻo của Liên Xô. Chờ đến lúc thời cơ thuận lợi, ông mở một con đường mới trong lùm cỏ, kéo thùng thuốc nổ vào gần lô cốt của địch rồi lách người vào bên trong thám thính. Lúc ông vào, nhìn quanh trong lô cốt trống hươ trống hoác, chỉ có một gã Mỹ đen nằm ngủ mê mệt, phía trên tháp canh là 4 lính Mỹ khác hình như đang đánh bài. Nghiên cứu được nơi đặt thùng thuốc nổ, ông nhanh nhẹn cắn kíp. Cắn kíp xong tự nhiên toàn thân ông ớn lạnh, gai ốc nổi đầy người và đôi chân như chùng xuống không thể nào lê bước. Phải lấy lại tự tin một lúc ông mời thoát thân ra khỏi vòng kẻm gai cuối cùng, rồi đi về một nơi cách lô cốt không xa để chờ tiếng nổ. Càng chờ càng mất, kíp nổ ông đã cắn chính xác là loại có 2 vạch tức là chỉ sau 30 phút sẽ phát hỏa, ấy vậy mà đã gần 2 giờ đồng hồ trôi qua ông vẫn chưa nghe tiếng nổ. Lúc ấy, tâm trí ông hết sức rối bời, ông nghỉ nếu mìn không nổ thì lính Mỹ sẽ phát hiện ra và việc đánh lô cốt này sẽ vô cùng khó thực hiện. Sau một lúc định thần, ông quyết định bò quay trở lại lô cốt để mang quả mìn về cho du kích nghiên cứu. Khi ông quay trở lại lô cốt, gã lính Mỹ da đen vẫn ngủ say, nên việc lấy quả mìn là rất đơn giản. Mang quả mìn về đến căn cứ để trình bày với chỉ huy du kích, mọi người mở ra thì thấy kíp vẫn điểm hỏa nhưng không có tiếng nổ. Nhiều người cho rằng do lượng thuốc nổ dẻo quá lớn nên không thể nổ được. Ngay lập tức, các chú du kích khoét một lổ ở giữa khối thuốc dẻo đó, gắn thêm vào một thỏi thuốc nổ TNT khô của Mỹ, rồi hướng dẫn cho ông vị trí cắm kíp nổ. Sáng hôm sau, ông trinh sát rất kỹ càng rồi quyết định mang mìn vào lô cốt, cắn kíp xong ông bình tỉnh đi ra bên ngoài để chờ đợi. Đúng 30 phút sau khi cắn kíp, một tiếng nổ inh tai vang lên, lô cốt bị đánh sập, tháp canh tan thành từng mảnh nhỏ, năm lính Mỹ có mặt ở đó chết tan xác không kịp kêu lên một tiếng, cả một khu vực đóng quân của Mỹ dường như đã bị san bằng. Đánh xong trận này, ông chạy thẳng về căn cứ và một mực đòi được đi du kích vì bọn Mỹ đã nghi ngờ ông. Ông nói với chú Đức Xã đội trưởng rằng “Nếu không cho đi du kích thì ông cũng đi theo chứ không còn đường quay trở về sống hợp pháp ở bên ngoài được nữa…”. Từ đó, ông được vào du kích, đêm đêm đi theo các anh, các chú để đi phá khu định cư để dân đấu tranh quay về làng cũ hoặc bảo vệ các trận địa pháo kích của ta. Vào du kích được chừng 5 tháng thì ông Kim – Bí thư khu ủy khu III Hòa Vang có chỉ thị rằng phải đánh bằng được tên ác ôn khét tiếng Huỳnh Bá Đoan lúc này đang giữ chức xã trưởng xã Hòa Hải. Phần thưởng dành cho du kích Hòa Long nếu đánh được tên Đoan sẽ là 1 khẩu AK47, còn người trực tiếp đánh sẽ được thưởng 1 khẩu K59. Nghe xong, Nguyễn Tấn Lực xung phong được thực thi nhiện vụ vinh quang này. Kế hoạch đánh đã được chuẩn bị hết sức kỹ càng, mìn đã được đặt, mục tiêu đã xuất hiện và ông đã khai hỏa 2 quả mìn clay-mo, mìn nổ, khói tung mịt mù nhưng Huỳnh Bá Đoan vẫn không bị tiêu diệt.

Dũng sĩ Nguyễn Tấn Lực bây giờ

   Tháng 5 năm 1969, sau một đêm đi công tác về căn cứ, ông có giấy triệu tập để lên đường ra miền Bắc. Cũng đêm đó, du kích xã Hòa Long họp lại, người tặng ông chiếc đồng hồ, người tặng ông tấm chăn chiên, người tặng ông chiếc võng. Vậy là ông lên đường ra Bắc, suốt 3 tháng ròng rã trên đường, đến tháng 8 năm 1969 ông và những người trong đoàn ra đến Hà Nội. Ở đó, đồng chí Sung ở ban tổ chức Trung ương là người đầu tiên đến đón tiếp đoàn. Theo kế hoạch, những người trong đoàn sẽ được gặp Bác Hồ để báo công nhưng tiếc thay lúc ấy Bác Hồ đang ốm nặng nên không gặp được. Những ngày trên đất Bắc sau đó, ông thường xuyên được đưa đến kể chuyện đánh Mỹ cho nhân viên của Nhà sách Huế-Sài Gòn-Hà Nội; cán bộ ở Cửa hàng bách hóa tổng hợp Hà Nội và nhiều cơ quan khac ở Hà Nội nghe. Với những thành tích trong chiến tranh, bản thân ông được tặng 4 bằng dũng sĩ diệt Mỹ và dũng sĩ diệt xe cơ giới. Được Chính phủ cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng 1 Huân chương chiến công giải phóng hạng Nhì; 1 Huân chương chiến công giải phóng hạng 3; 1 Huân chương kháng chiến hạng 3 và 1 Huy chương chiến công hạng nhất. Cho đến khi đặt chân lên đất Bắc ông vẫn chỉ là một cậu bé gầy yếu, trọng lượng cơ thể chỉ 21kg. Ông được đưa sang Trung Quốc dưỡng bệnh rồi sau đó được cho đi học ở Trường Phổ thông Lao động Trung ương đóng ở Từ Hồ, Hưng Yên cho đến lúc tốt nghiệp cấp 3 vào năm 1975.

   Sau ngày đất nước thống nhất, ông trở về quê hương Quảng Nam – Đà Nẵng và phục vụ trong ngành công an cho đến ngày về hưu tháng 4 năm 2007 với cấp hàm thượng tá.  

   Giờ đây, dũng sĩ Nguyễn Tấn Lực người đã có những năm tháng tuổi thơ vô cùng dữ dội trên miền quê anh hùng ấy đang sống những tháng ngày hạnh phúc, vui vầy bên người thân và góp một chút sức mình vào công tác ở tổ dân phố nơi ông đang cư ngụ. Những người bạn một thời từng sát cánh bên ông, từng nhường cơm xẻ áo với ông như Thượng tá Lê Ngọc, Trung tá Bùi Chí Hòa, Thiếu tá Nguyễn Bá Cường, Đại úy Huỳnh Ánh Hồng…vẫn thường xuyên ghé lại thăm ông, chia xẻ cùng ông mọi buồn vui của cuộc sống…

                                                                                   PHAN BÙI BẢO THY

 

 

 

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=296700

EM CÓ CÒN THƯƠNG NHỚ
baothy | 12 Apr, 2011, 11:20 | Chung | (113 Reads)

 

EM CÓ CÒN THƯƠNG NHỚ

 

Từ dạo chia ly nỗi buồn chia hai nửa

Sông Lam em, tóc ngắn đợi mùa thu

Đêm tỉnh giấc ký ức về gõ cửa

Bất chợt lòng rưng rức nhớ thu xưa

 

Em xa quá triệu vòng tay anh với

Mai có chìm tắt giữa lòng sông

Mưa sũng ướt hạt phù sa bến bãi

Em có còn thương nhớ anh không

 

Em có còn thương nhớ anh không

Ơi sông Lam, mùa thu, tóc ngắn

Giận dỗi chi, để chiều biển động

Đợi chờ, ngoan, em nhớ, đợi anh về

                         Quảng Trị 3-9-1992

                          PHAN BÙI BẢO THY

 

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=291369

Hàn Mặc Tử qua ký ức của người thân
baothy | 02 Mar, 2011, 20:02 | Chung | (51 Reads)

Hàn Mặc Tử qua ký ức của người thân

 

Số phận đã khéo trói buộc những thi nhân có một đời sống nội tâm rất đỗi lạ thường, họ nặng nỗi với đời, với người, với vạn vật của tạo hóa… Hàn Mặc Tử là một nhà thơ kiệt xuất của thời kỳ hiện đại, một hiện tượng nổi bật của văn học Việt Nam giữa thời hoàng kim của phong trào thơ mới.

 

 

Với tài năng xuất chúng của mình, với nỗi đớn đau của định mệnh vô cùng nghiệt ngã, ông đã hoàn tất sứ mệnh với cuộc đời, để lại cho đời một di sản vô cùng quý báu với nhiều câu thơ kỳ diệu có thể xếp vào hàng hay nhất của thi ca Việt Nam. Bảy mươi năm qua, kể từ ngày thi sĩ rời xa cõi thế, đã có không biết bao nhiêu người thuộc mọi tầng lớp, mọi trình độ đã kính cẩn nghiêng mình rơi lệ trước anh linh của người thi sĩ tài hoa mà bạc mệnh này. Với tư duy khác lạ của một nhà thơ hiện đại, cùng với sức tiên cảm đặc biệt của một bậc thánh thi, trong những tháng năm ngắn ngủi của đời mình, Hàn Mặc Tử đã hóa giải được mối liên hệ thống nhất khăng khít giữa thi sĩ với vũ trụ vô thủy vô chung này.

"Một mai kia ở bên khe nước ngọc
Với sao sương anh nằm chết như trăng
Không tìm thấy nàng tiên mô đến khóc
Đến hôn anh và rửa vết thương tâm".

Sinh thời, nhà thơ tài hoa này đã mắc phải một chứng bệnh khốc hại (bệnh phong) mà cho tới nay người đời vẫn cứ đinh ninh rằng Hàn Mặc Tử phải sớm lìa xa cõi thế cũng vì chứng nan y này.

Rất ít người biết được rằng, từ sau khi được người anh rể (chồng của chị Lễ), một viên chức làm việc trong ngành xét nghiệm phát hiện bị mắc bệnh phong. Suốt bốn năm trời chạy chữa và dưỡng bệnh ấy, dẫu rằng có rất nhiều những người bạn, những người tình trong mộng đến bên cạnh Hàn Mặc Tử. Vậy mà "vết thương tâm" trong nhà thơ vẫn cứ mỏi mòn.

Hạnh phúc thay còn có một người, đó là ông Phạm Hành (em con chú ruột của Hàn Mặc Tử). Vì quá thương anh sớm lâm trọng bệnh mà ông Hành đã bỏ học để theo chăm sóc, đưa cơm xách nước, phục vụ chu tất trong những ngày nhà thơ chống chọi tuyệt vọng với căn bệnh nan y.

Là anh em chú bác ruột, nhưng người mang họ Nguyễn (Hàn Mặc Tử tên thật là Nguyễn Trọng Trí, sinh năm 1912, tại làng Lệ Mỹ, nay thuộc thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình), người lại mang họ Phạm, là do ông nội của nhà thơ và ông Hành là ông Phạm Bồi (người gốc Thanh Hóa), vì có liên quan đến phong trào Cần Vương chống Pháp, nên sau khi thất bại, ông Bồi đã phải trốn vào ẩn dật ở đất Thừa Thiên.

Khi sinh ra thân phụ của Hàn Mặc Tử, ông Phạm Bồi đã cải họ Phạm của mình thành họ Nguyễn và đặt tên cho con là Nguyễn Văn Toản nhằm tránh những rắc rối về lý lịch sau này. Nhưng chẳng hiểu vì lý do gì, khi sinh ra thân phụ của ông Hành thì ông Phạm Bồi vẫn giữ nguyên họ Phạm để đặt tên cho con?

 

Ông Phạm Hành.

 

Ông Phạm Hành sinh năm 1924, tại làng Thanh Tân, xã Phong Sơn, huyện Phong Điền (Thừa Thiên-Huế). Khi lớn lên, do những run rủi của phận người, bước chân ông đã dạt trôi đến vùng đất ở phía Nam cầu Mỹ Chánh, thuộc xã Hải Chánh, huyện Hải Lăng (Quảng Trị) và sống luôn ở đó cho đến bây giờ.

 

Thời điểm tôi cùng với Nhà báo Nguyễn Hoàn ở Báo Quảng Trị (nay Nhà báo Nguyễn Hoàn là Phó Giám đốc Sở Thông tin - Truyền thông tỉnh Quảng Trị) tìm đến được nhà ông Hành, trông ngôi nhà của vợ chồng ông trú ngụ nhỏ bé và tuềnh toàng lắm, nằm khuất sau một lối đi nhỏ cỏ mọc um tùm, hoang vắng. Vườn nhà tuy rộng nhưng cũng chỉ có mấy gốc chè, vài cây mít…

Gia sản đáng giá nhất có chăng cũng chỉ là một cỗ hậu sự do mấy người con đi xây dựng vùng kinh tế mới ở tận trong miền Đông Nam Bộ gom góp chuẩn bị sẵn cho ngày ra đi của ông và một kho ký ức về nhà thơ tài danh Hàn Mặc Tử.

Sau khi cha mất sớm, Nguyễn Trọng Trí được mẹ đưa vào Quy Nhơn để sống với người anh ruột là Nguyễn Trọng Nhân (lúc này ông Nhân là công chức ở Sở Cầu đường Quy Nhơn, Bình Định). Năm 1928, Nguyễn Trọng Trí được mẹ cho ra Huế học. Năm 1930, Nguyễn Trọng Trí đoạt giải nhất cuộc thi thơ do một thi xã tổ chức với bút hiệu là Lệ Thanh và Phong Trần.

Năm 1932, Nguyễn Trọng Trí làm công chức ở Sở Đạc Điền Quy Nhơn dưới quyền của Thương tá Hoàng Phùng (thân sinh của bà Hoàng Thị Kim Cúc - người yêu của Hàn Mặc Tử). Năm 1934, Nguyễn Trọng Trí theo Thúc Tề vào Sài Gòn ôm mộng viết báo, làm thơ, lấy bút hiệu là Hàn Mặc Tử. Năm 1936, thấy mình nhuốm bệnh, Hàn Mặc Tử đã từ giã những người bạn cùng ôm mộng làm thơ, viết báo của mình, từ giã cả Sài Gòn hoa lệ để quay trở ra Quy Nhơn và xuất bản tập thơ đầu tay "Gái Quê"...

Năm đó, ông Hành chừng mười hai, mười ba tuổi gì đó. Sống bên cạnh Hàn Mặc Tử, ngày ngày ông giúp nhà thơ thay quần áo rồi gói ghém mang đến tiệm thợ giặt, lo bưng cơm, rót nước, đặc biệt là lo dán tem lên những bì thư rồi đạp xe đi bỏ thư vào những thùng thư mà Nha Bưu điện đặt rải rác dọc các đường phố Quy Nhơn. Ông Hành nhớ là hầu như ngày nào anh Trí cũng bảo ông đạp xe đi gửi thư, có ngày tới ba, bốn lá...

 

Dừng lại và ngẫm nghĩ một hồi lâu, ông Hành kể: "Hồi đó, anh Trí chỉ mới bị mấy cái nụ đỏ đỏ ở trên mặt thôi, chứ chưa phải là phung hủi chi hết. Khi bệnh còn nhẹ, sáng nào anh Trí cũng tập thể dục thiệt sớm, thường là anh kéo dây, khi khỏe thì anh kéo một lúc 6 sợi dây cao su, lúc nào mệt thì anh chỉ kéo 2, 3 sợi thôi. Rồi cả ngày anh viết thơ luôn tay không nghỉ, rồi dạo lui, dạo tới ngâm thơ một mình như người điên… (cười). Anh Trí có kiểu viết thơ lạ lắm, khi mô cũng nằm ngửa, rồi kê tờ giấy trong lòng bàn tay mà viết. Chữ của anh Trí thì cứ chữ này dính với chữ kia kéo thành dây nhìn ngồ ngộ. Hỏi thì anh nói viết như rứa cho mau".

Dù đã cách xa nhà thơ từ nhiều năm lắm rồi, nhưng ông Hành vẫn nhớ như in hình bóng của người anh khả kính. "Thân hình anh Trí không to mà cũng không nhỏ lắm, đầu tóc khi mô cũng bờm xờm như đội mũ bê rê. Trưa trưa, chiều chiều là bắc ghế mây ra trước sân ngồi nhìn phong cảnh ở ngoài con đường Khải Định. Tính tình hiền từ như con gái, và rất ít khi nghe anh Trí nói chuyện ở nhà. Vậy mà mỗi khi có bạn thơ họp mặt, ngâm ngợi với nhau thì anh Trí là người cãi sôi nổi hơn ai hết.

Về sau khi bệnh tình hành hạ, anh Trí hầu như không thích giao du với mọi người nữa. Ông Hành nhớ lại, hồi đó có một cô gái nói giọng Bắc Kỳ sang trọng lắm, ngày nào cũng thuê xe kéo tay đảo lui đảo tới vài vòng trước nhà để xin gặp mặt anh Trí, nhưng mà anh cứ trốn lỳ trong buồng từ chối không gặp mặt. Riết rồi cô con gái năn nỉ quá anh mới chịu cho gặp, nhưng với một điều kiện là cô gái kia phải bịt mắt khi đối diện với nhà thơ. May thay, bà Nguyễn Thị Duy, mẹ của Hàn Mặc Tử biết chuyện và đã cho cô gái cởi khăn bịt mắt ra.

Ngày tháng cứ dần trôi, bệnh tình của nhà thơ mỗi lúc càng thêm bi đát, và rồi căn nhà nằm bên con đường Khải Định ở thành phố Quy Nhơn cũng không đủ sức để níu giữ thân phận nghiệt ngã của nhà thơ. Thời đó, quan niệm của người đời về bệnh phong là kinh khủng lắm, nên gia đình đành phải thuê một căn nhà nhỏ nằm ven bãi biển Ghềnh Ráng, cạnh một cái đồn lính Tây của hai chị em người đàn bà góa để cho nhà thơ trú ngụ.

Ông Hành cũng khăn gói đi theo để phục dịch anh mình, tiếng thì đi ở riêng nhưng cơm nước hằng ngày ông Hành vẫn về nhà mang đến. Ông Hành cứ nhớ mãi, hồi đó anh Trí chỉ thích ăn cơm với cá liệt kho khô (cá liệt hồi đó con mô cũng to bằng bàn tay chứ không nhỏ như bây chừ-ông Hành nhấn mạnh) vì loài cá này không độc. Lâu lâu anh Trí mới được ăn một bữa thịt, vì mẹ của anh cho rằng bệnh phong rất kỵ với hơi của thịt mỡ.

Hai anh em ở trong cái nhà thuê lụp xụp bên mé biển đó được chừng 5 tháng thì bệnh nặng ra. Hàn Mặc Tử được đưa đi cấp cứu ở Bệnh viện Quy Nhơn, nằm được vài hôm, đến ngày 20/9/1940 thì hai anh em phải dắt díu nhau đến trú ngụ ở Bệnh viện phong Quy Hòa. Ở đó, thời bấy giờ được xem là nơi tột cùng của đau khổ nhân gian…

Ông Hành nhớ rất rõ rằng: Khi vào Bệnh viện phong Quy Hòa, tay của anh Trí đã hơi cứng nên viết lách rất khó khăn, trên mặt thì nổi nhiều mụn đỏ mọng như sắp nứt. Khi mới đến, anh Trí được phát bộ áo quần bệnh nhân, mang số 1134 và xếp cho nằm trong phòng tập thể. Sau đó một thời gian thì được xếp nằm riêng một mình. Theo ký ức của ông Hành thì từ khi được xếp ra ở riêng được chưa đến chục ngày thì anh Trí trút hơi thở cuối cùng, từ giã cõi dương gian để về với chúa.



Chiều ngày 11/11/1940, khi ông Hành đạp xe từ Quy Nhơn lên tới Quy Hòa, trên tay vẫn đang cầm gói thức ăn cho anh Trí thì những người ở bệnh viện đã khâm liệm anh Trí xong xuôi. Ông Hành nghẹn ngào kể lại: "Tui vẫn còn nhớ như in ngày mới vô Quy Hòa, anh Trí cứ dặn dò: "Em nhớ đừng nhổ nước miếng xuống nền nhà nghe chưa, nếu em nhổ là anh bị phạt ăn cơm lạt và nhổ cỏ đó".

Để hâm nóng pho ký ức về Hàn Mặc Tử của ông Hành, tôi phải kéo dòng hồi tưởng trong ông chầm chậm lại. "Bây giờ ông có còn thuộc thơ của anh Trí viết không?". "Có chớ, hồi trai trẻ thì thuộc nhiều, chừ già rồi cũng quên hết...", nói xong ông ngồi ngâm khe khẽ: "Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu/ đợi gió đông về để lả lơi/ Hoa lá ngây tình không muốn động/ Lòng em hồi hộp, chị Hằng ơi/ Trong khóm vi lau dào dạt mãi/ Tiếng lòng ai nói? sao im đi?/ Ô kìa, bóng nguyệt trần truồng tắm/ Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe".

Mấy mươi năm đã qua đi, buổi chiều này ngồi để nhắc nhớ lại chuyện của người thiên cổ, ký ức về người anh tài hoa mệnh bạc cứ như đong đầy, nặng trĩu làm cho ông Hành vốn đã già yếu lại càng già đi. Gió heo may rườn rượt kéo về cùng với những cơn rét đậm, linh cảm cho tôi biết dường như thời gian không còn nhiều nữa cho pho ký ức sống về Hàn Mặc Tử hiếm hoi này.

Chia tay tôi trong cái buổi chiều trời mưa lất phất, ông Hành còn nhắc: "Mai về Đà Nẵng cố gắng tìm đến Thánh viện Phao Lồ, nằm trên đường Yên Báy, ở đó có bà Công Tằng Tôn Nữ Phương Khanh là con gái của chị Lễ và là cháu gọi nhà thơ Hàn Mặc Tử bằng cậu ruột. May ra người này có biết thêm một chút gì về những ngày tháng cuối cùng của anh Trí...".

Về Đà Nẵng, tôi đã tìm gặp bà Phương Khanh, hiện đang là nữ tu ở Thánh viện Phao Lồ, nhưng bà Khanh bảo rằng: "Khi cậu Trí mất, tôi cũng còn nhỏ lắm, lớn lên thì vào tu trong nhà dòng, chỉ nghe mẹ tôi kể lại rằng ngày đó, gia đình bà ngoại tôi đã chạy đôn chạy đáo khắp nơi để tìm phương cứu chữa cho cậu Trí, nghe ai bảo làm gì cũng làm, kể cả việc mài vàng ròng cho cậu Trí uống. Có lẽ vì cậu Trí được cho uống quá nhiều bột vàng ròng nên sinh ra bị bệnh đường ruột. Theo bà Khanh thì Hàn Mặc Tử qua đời là vì bệnh đường ruột (bệnh kiết lỵ) chứ không phải thủ phạm đã cướp đi sinh mạng của nhà thơ tài hoa  nước Việt là trực khuẩn Hansen!?

Nhận định về nguyên nhân dẫn đến cái chết của người cậu ruột tài hoa đoản mệnh của bà Phương Khanh xem ra rất có lý khi đem đối chiếu với những tư liệu mà người bạn cùng nằm Bệnh viện phong Quy Hòa với Hàn Mặc Tử là ông Nguyễn Văn Xê đã kể lại trong hồi ký của mình và đã được trích đăng trên Tạp chí Sông Hương số 28, ra ngày 11/12/1987 như sau: Ngày 20/9/1940, có tiếng phanh xe ôtô trước Nhà thương nam làm bệnh nhân người nhìn qua cửa sổ, kẻ lẹ chân chạy ra gần chiếc xe. Mẹ Juetta lẹ làng chạy ra cửa tiếp hồ sơ nơi tay bác y tá đứng tuổi rồi đỡ bệnh nhân xuống. Đến giường số 3, mẹ dừng lại, nhìn hồ sơ và nhẹ nhàng nói: "Trí, đây là chỗ của con".

15h chiều hôm ấy, ông Xê bắt chuyện với Hàn Mặc Tử: "Tôi là Xê, người Huế, vào trại đã hai năm, hiện đang giúp việc cho các mẹ. Tôi còn nhỏ lắm, mới 21 tuổi thôi, xin anh Trí hãy gọi bằng em cho thân mật", Hàn Mặc Tử lắc đầu: "Anh Xê đừng quan tâm chuyện tuổi tác, tôi cũng mới hai mươi tám". Hàn Mặc Tử nói với ông Nguyễn Văn Xê: "Khắp các tiệm thuốc bắc và các ông bà thầy thuốc nam ở Bình Định tôi đến chữa không sót một người, mà càng ngày thân thể ra thế này".

Hàn Mặc Tử vào Quy Hòa được ba tuần. Nhờ sự chăm sóc chu đáo, tận tụy của các nữ tu dòng thánh Franois Dassise, mà đặc biệt là mẹ Juetta phụ trách Nhà thương nam là người lo lắng cho Hàn Mặc Tử nhất nên bệnh tình thuyên giảm rõ rệt.

Từ tuần lễ thứ tư, sinh hoạt của ông đều đều: 5giờ sáng dậy đi nhà thờ đọc kinh và rất sốt sắng chầu lễ, rước lễ; 7h cùng anh em bệnh nhân ăn điểm tâm cháo trắng với đường đen; 8h băng bó, uống thuốc hoặc chuyện trò với anh em đồng bệnh; 11h ăn cơm trưa rồi nghỉ ngơi; 14h30’đi nhà thờ đọc kinh lần hạt; đến 17h đi ăn cơm chiều.

Sang tuần thứ năm, Hàn Mặc Tử được mẹ Juetta chích thuốc trị bệnh thời đó do bác sĩ Gour vile, Giám đốc Bệnh viện Quy Nhơn bào chế với tên Huile de Cholmoogra để chích ven mỗi lần 1/2cc cộng với thuốc trị công phạt ác tính là Essene Teberentine nên bệnh có vẻ giảm do đó thường thấy Hàn Mặc Tử bách bộ lui tới ở hành lang Nhà thương nam hoặc ở vườn hoa ngồi suy tư trên ghế đá với tập giấy kẹp ở nách cầm cây bút chì nhỏ mòn cùn. Hàn Mặc Tử sinh hoạt bình thường cho đến vào buổi trưa 30/10/1940, sau khi đi đọc kinh lần hạt ở nhà thờ về.

Cả buổi trưa cho đến tối ngày hôm đó (30/10/1940) ông Xê bận việc đến sáng hôm sau mới hay Hàn Mặc Tử đi kiết bị kiệt sức nên không thể đến nhà thờ.

Khi ông Xê đến thăm thì thấy Hàn Mặc Tử phờ phạc, xanh xao nhiều lắm nên ông đề nghị mẹ Juetta cho ông vào trong phòng liệt nằm cho tiện. Rồi suốt hơn một tuần lễ từ 30/10 đến 7/11/1940 thì bệnh kiết lị của Hàn Mặc Tử vẫn không thuyên giảm mà có phần tăng thêm nên người ông khô đét, gầy guộc xanh xao đến thảm não. Đêm 8/11/1940, Hàn Mặc Tử đi tiêu rất nhiều lần, mỗi lần đi có một chút chất nhầy và vài giọt máu nên ông Xê thấy Hàn Mặc Tử mệt lả đến đi không nổi, ông phải dìu đi tiêu, rồi về giường nằm.

Đêm càng về khuya thì sức ông Xê càng mệt nên đã ngủ quên chắn cả lối đi, không ngờ trong lúc ấy Hàn Mặc Tử tuột xuống giường đi không nổi nên đã lấy một cái âu ngồi lên đó mà đi tiêu.

Khi ông Xê giật mình thức giấc thì thấy Hàn Mặc Tử ngồi trong xó tối sau chiếc tủ con ôm bụng nhăn nhó nói: "Anh Xê ơi, đỡ tôi lên với". Ông Xê đến đỡ Hàn Mặc Tử lên giường nằm rồi mới nói: "Sao anh không thức tôi dậy", thi sĩ trả lời vô cùng mệt nhọc: "Tôi thấy anh cũng mệt nên để anh nghỉ một chút".

Sáng 9/11/1940, sau khi khám bệnh, mẹ Juetta bưng chén thuốc cho Hàn Mặc Tử uống xong nói: "Chiều nay có xe đi mời Cha Tuyên úy vào xức dầu cho con", ông gật đầu và nói tiếng "dạ" rất nhỏ. Sáng 10/11/1940 lúc 6h 45’, Cha cho Hàn Mặc Tử được chịu phép xức dầu và rước lễ lần cuối.

Đêm 10/11, ông Xê trực, hai mẹ Juetta và soeur Julienne có đến thăm Hàn Mặc Tử ba lần và lần thứ ba khoảng 3h thì soeur Julienne cho biết từ đó đến sáng Hàn Mặc Tử sẽ chết.

Thời gian của đêm đó như chùng xuống, ông Xê nhìn Hàn Mặc Tử ngoài những lúc đau bụng đi tiêu, thì khi quỳ cũng như ngồi hoặc nằm, Hàn Mặc Tử đều đọc kinh cho đến ngày 11/11/1940 lúc 5h45’ sáng thì ông nhẹ nhàng tắt thở.

Ông Phạm Hành nay đã không còn nữa, nhưng may mắn thay những gì chúng tôi ghi lại được từ ký ức của ông về người anh con bác ruột của mình, thi sĩ tài hoa Hàn Mặc Tử sẽ mãi mãi là những tư liệu vô cùng quý báu cho những ai yêu quý Hàn Mặc Tử và cho nền văn học nước nhà...

  Phan Bùi Bảo Thi

 

 

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=283293

HẸN XUÂN VỀ
baothy | 08 Jan, 2011, 07:23 | Chung | (99 Reads)


 
HẸN XUÂN VỀ

Ngày cạn dần theo từng trang lịch cũ

Gió heo may, da diết vỗ bên nhà

Chân mõi mệt giữa góc trời viễn xứ

Ngẩn ngơ ngồi thương nhớ tháng ngày qua

Như đâu đó, vọng buồn hương nếp mới

Khúc sông quê, hoa trắng rụng vơi đầy

Mẹ ta vẫn tảo tần phiên chợ tết

Tóc trắng cha, dăm sợi rụng hao gầy

Không giấu được nỗi hoài hương trên mắt

Nhặt vội ven đường chiếc lá vu vơ

Xếp một cánh thuyền thả theo dòng nước

Hẹn xuân về trong nắng sớm tinh mơ

                                  PHAN BÙI BẢO THY

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=273383

NHỚ MẠ!
baothy | 17 Dec, 2010, 19:16 | Chung | (140 Reads)
NHỚ MẠ!

Mạ hỡi! đèn khuya ai đã tắt
Lay phay mưa, gió gọi nhau về
Cánh lá tàn đông hờ hửng rụng
Nhói lòng con nhớ mạ ngoài tê...

xa cách bao năm rồi mạ hỉ?
Thương con tóc mạ bạc trắng đầu
Ai xui con sống đời thi sĩ
Đáp đền ơn mạ có gì đâu?

                   PHAN BÙI BẢO THY

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=269600

Gặp nguyên mẫu chị Kha trong tiểu thuyết “Hồi đó ở Sa Kỳ” (tiếp theo)
baothy | 09 Dec, 2010, 20:49 | Chung | (61 Reads)
Gặp nguyên mẫu chị Kha trong tiểu thuyết "Hồi đó ở Sa Kỳ" (tiếp theo)

Năm 1967, có một tiểu đội lính Mỹ thường xuyên phục kích, đánh phá phong trào cách mạng ở địa phương. Bọn lính Mỹ trong tiểu đội này rất hiếu chiến và được huấn luyện rất tinh nhuệ. Chúng tập kích vào anh em du kích ở các xã Điện Thọ, Điện Hòa và các xã khác thuộc huyện Điện Bàn gây cho ta nhiều tổn thất. 
  Có giai đoạn, ta điều bộ đội R20 về nằm vùng suốt cả tháng trời ở địa bàn mà vẫn không tiêu diệt được tiểu đội lính Mỹ này. Một hôm, trong cuộc họp Đảng ủy xã, các đồng chí lãnh đạo đã cùng anh em bàn bạc nhiều đến việc đánh hạ tiểu đội lính Mỹ để giảm thiểu tổn thất cho lực lượng cách mạng. Với tư cách là một đảng ủy viên của Đảng ủy xã Điện Thọ, chị Chính đã xin được tham gia vào nhiệm vụ đánh tiểu đội lính Mỹ đang đóng quân trên địa bàn này.
Một buổi sáng cuối năm 1967, khi mọi người dân đang háo hức đổ dồn ra Đà Nẵng theo kế hoạch đã hợp đồng trên toàn tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, tập dượt để chuẩn bị cho việc nổi dậy vào dịp Tết Mậu Thân 1968. Chị Chính đang ngồi trong nhà thì nghe tiếng đồng chí Bí thư Đảng ủy xã nói lớn "Ai trong nhà nhắn giùm con Chính bắt con gà trống trả cho tui nghe...". Nghe như vậy, chị Chính biết được rằng đang có lính Mỹ ở trên địa bàn xã. Chị vội vàng thay quần áo, rồi xách hai chiếc thùng đi ra theo hướng có lính Mỹ. Đi được một đoạn thì chị thấy có một lính Mỹ da đen đang ngồi ôm súng gác cạnh bụi tre trước nhà một người quen. Chị chủ động tiến lại gần để hỏi thăm tên lính Mỹ.   Chị xin thuốc lá Salem, rồi cùng hút với tên lính gác, sau đó chị nói vào trong nhà người quen để trả hai chiếc thùng gánh nước. Khi chị đi vào trong nhà thì thấy có đến gần 20 lính Mỹ đang đứng ngồi nhốn nháo, áo quần bê bết bùn lầy, chắc là chúng vừa trở về sau một cuộc hành quân mật phục. Thấy chị bước vào, cả đám xúm lại hỏi chuyện, chị cũng giả vờ vui vẻ, rồi tiến đến ngồi bên chiếc giường tre, nơi có một sĩ quan Mỹ đang nằm nghỉ. Thấy chị ngồi xuống, tên thiếu úy cũng ngồi dậy trò chuyện. Sau hơn 2 tiếng đồng hồ trò chuyện, chị quyết định mời tên sĩ quan Mỹ về nhà mình chơi, nhằm mục đích để cho tổ du kích đang ém quân phối hợp với chị tổ chức bắt sống.   Lúc đầu tên sĩ quan Mỹ không chịu đi nhưng sau một hồi thuyết phục khôn khéo của chị, cuối cùng gã cũng đi. Chị dẫn tên sĩ quan Mỹ đi trên đường làng, vừa đi, vừa trò chuyện. Đến đoạn đường vắng, chị nhận được tín hiệu của tổ du kích hỗ trợ thông báo an toàn để hành động. Chị vờ quàng tay qua ôm tên sĩ quan Mỹ, rồi nhanh tay tước khẩu súng ngắn gã đang đeo lủng lẳng bên mình. Thấy nhiều người xuất hiện đột ngột, tên sĩ quan Mỹ chỉ kịp hô lên mấy tiếng "Vi-xi"... "Vi-xi" rồi đành chấp nhận thúc thủ trước  đòn tấn công nhanh gọn của chị Chính và tổ du kích...
Sau chiến công bắt sống tên sĩ quan Mỹ, chị Chính càng được tổ chức và các đồng chí lãnh đạo tin tưởng giao phụ trách nhiều công việc quan trọng khác. Bọn địch lồng lộn, điên tiết vì một sĩ quan Mỹ được đào tạo hết sức bài bản, chính quy lại bị một nữ Việt cộng bắt sống một cách dễ dàng. Người chủ căn nhà nơi đám lính Mỹ đóng quân đã bị chúng bắt và tra tấn hết sức dã man. Nhà chị cũng nhanh chóng bị bố ráp, lục soát, chị phải dạt ra địa điểm khác, ẩn náu trong hầm bí mật và bắt đầu một chặng đường mới là hoạt động bất hợp pháp trong lòng địch.   Truy lùng để bắt chị không được, ảnh chân dung của chị được bọn Mỹ-ngụy in ra rất nhiều, dán khắp nơi và treo giải thưởng cho ai phát hiện và bắt được chị. Trước tình hình căng thẳng như thế, nhưng chị vẫn kiên gan hoạt động, tổ chức phong trào phụ nữ ở địa phương, lập các tổ công tác cơ động để chuyển thư từ, công văn hỏa tốc đến với các cơ sở cách mạng; vận động binh lính ngụy rã ngũ.
Năm 1971, trong một chuyến vận chuyển tài liệu cho một cơ sở của ta, chị bị địch phục kích, bị thương nặng nên phải nằm chữa trị dài ngày dưới hầm bí mật. Vết thương quá nặng, mặc dù được bác sĩ Nhâm và các y sĩ, y tá ở trạm quân y nằm trong căn cứ thuộc xã Điện Phước tận tình chạy chữa, nhưng chị vẫn vĩnh viễn mất đi một con mắt, một chân và một cánh tay hoàn toàn bị tê liệt.
Từ năm 1966, nhà văn Bùi Minh Quốc đến hoạt động ở vùng Điện Thọ, đã biết rất nhiều về chị, về những hành động anh dũng của chị trong những năm tháng chiến tranh. Cảm kích trước tấm lòng vì cách mạng của một người con gái ở thôn Đông Hòa, sau này, nhà văn Bùi Minh Quốc đã khắc họa lại những chiến công của chị, những suy nghĩ, khát vọng lớn lao của chị về quê hương và Tổ quốc qua nhân vật chị Kha trong tiểu thuyết chiến tranh nổi tiếng "Hồi đó ở Sa Kỳ".
Giờ đây, ở tuổi 65, với tấm thân đầy vết thương trong chiến tranh (chị là thương binh hạng 1/4), chị vẫn một mình lặng lẽ sống, lặng lẽ góp sức mình thông qua công tác từ thiện xã hội. Tàn tật là thế nhưng chị chưa hề bỏ lỡ một chuyến cứu trợ hay khám bệnh từ thiện nào mà những người quen của chị tổ chức. Hôm gặp tôi, chị khoe là vừa thực hiện xong ước mơ đi thắp hương dọc các nghĩa trang liệt sĩ ở các địa phương vùng Trung bộ; được ông Bí thư Thành ủy Đà Nẵng Nguyễn Bá Thanh tạo điều kiện bằng tiền túi để ra Hà Nội vào Lăng viếng Bác Hồ, được tham gia giao lưu cùng đoàn Anh hùng và Bà mẹ Việt Nam anh hùng hành hương về thủ đô nhân đại lễ 1.000 năm Thăng Long-Hà Nội...   Chỉ tay về hướng bức tường nhà đã úa màu thời gian, chị nói: "Em nhìn đấy, cả cuộc đời của chị chỉ còn lại những thứ này". Tôi bước lại gần để nhìn cho tường tận: Một giấy chứng nhận Chiến sĩ thi đua từ năm 1966; một Huân chương Chiến công; một bằng chứng nhận danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân do Nhà nước phong tặng ngày 28 tháng 5 năm 2010 cho chị với tư cách là "Nguyên Phó ban Binh vận xã Điện Thọ, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam" và một bức ảnh chân dung mà ngày xưa kẻ thù đã dùng để tầm nã chị.                                      Bài và ảnh: PHAN BÙI BẢO THY
Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=268537

Gặp nguyên mẫu chị Kha trong tiểu thuyết “Hồi đó ở Sa Kỳ”
baothy | 06 Dec, 2010, 07:43 | Chung | (82 Reads)
Gặp nguyên mẫu chị Kha trong tiểu thuyết "Hồi đó ở Sa Kỳ"

Hàng chục năm qua, nhiều người ở cái xóm nhỏ bên nách chợ Hàn-Đà Nẵng, ai cũng biết và vô cùng quý mến chị Chính thương binh nặng. Một thân một mình, trong hoàn cảnh chỉ còn một chân, một mắt, một tay, chị lặng lẽ vừa chống chèo với cuộc sống, vừa tích cực tham gia cùng các tổ chức từ thiện xã hội, băng rừng, lội suối để mang niềm tin đến với người nghèo ở khắp nẻo miền Trung...

 

Mô tả ảnh.
Anh hùng LLVTND Trần Thị Chính lúc còn trẻ (ảnh trái) và bây giờ.

Ấy vậy mà không nhiều người biết được rằng, trong những năm tháng chiến tranh ác liệt nhất, khi mới 11 tuổi chị đã là một giao liên năng nổ của phong trào cách mạng ở địa phương. Chị là người phụ nữ đầu tiên trên mặt trận Quảng Nam - Đà Nẵng đã dũng cảm, mưu trí lấy súng AR15 của địch giao cho du kích chiến đấu; là người đầu tiên bắt sống sĩ quan Mỹ ngay giữa chiến trường; là người đã quên mình chặn hướng tấn công của 22 xe tăng địch, để cứu sống 8 thương binh của ta đang ẩn nấp chờ được đưa về hậu cứ; là nguyên mẫu của nhân vật chị Kha trong tiểu thuyết nổi tiếng "Hồi đó ở Sa Kỳ" của nhà văn Bùi Minh Quốc; là nữ Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ của dân tộc.

Tên đầy đủ của chị là Trần Thị Chính, sinh năm 1945, tại thôn Đông Hòa, xã Điện Thọ, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Chị sinh ra và lớn lên trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng, ở một vùng đất cách mạng. Cha mẹ chị đều là cơ sở nuôi giấu cán bộ của ta trong thời kỳ chống Pháp. Năm 1951, do bị chỉ điểm, cha chị bị Pháp bắt đưa về đồn tra tấn hòng khai thác thông tin, nhưng ông đã kiên cường trung thành với cách mạng. Biết không làm gì được, giặc Pháp đã chặt đầu ông để uy hiếp phong trào.

Mẹ chị sau đó cũng rơi vào tay giặc, trải qua nhiều trận đòn tra khảo, cuối cùng đã chết vì bệnh tật ốm đau. Anh ruột của chị, mới 16 tuổi cũng đã được các chú, các anh hướng dẫn tình nguyện đi lính cho giặc để làm nội gián. Mấy tháng trong hàng ngũ của quân thù, ông (Trần Lưới) anh chị đã cùng với một người bạn đồng ngũ là cơ sở của ta vẽ thành công sơ đồ đồn giặc, để từ đó ta tổ chức những trận công đồn thắng lợi. Sau đó, ông Lưới bỏ ngũ về tham gia lực lượng bộ đội địa phương huyện Điện Bàn, đến năm 1954 ông bị thương nên được đưa về hoạt động cơ sở ở vùng Đại Lộc (Quảng Nam). Hoạt động chẳng bao lâu thì ông bị giặc truy lùng, phải trốn về quê nhà ở Điện Thọ, Điện Bàn (Quảng Nam) tiếp tục làm cơ sở, rồi thoát ly chuyển sang làm việc ở ngành giao thông cho đến ngày nghỉ hưu.

Năm 1957, mới 11 tuổi, chị Chính đã được các anh ruột của mình hướng dẫn làm giao liên, vận chuyển thư từ cho các cơ sở cách mạng ở địa phương. Sang năm 1958, thời điểm này địch triển khai thực hành Luật 10/59 rất quyết liệt, chúng đánh phá triền miên nên các đường dây cơ sở cách mạng ở địa phương có lúc bị gián đoạn. Năm 1960, chị Chính theo một người anh chuyển vào Sài Gòn và nhanh chóng nối liên lạc với các cơ sở của ta. Ở Sài Gòn, chị ngụ tại số 7/11 đường Nguyễn Huệ-Phú Nhuận. Từ đây, chị tiếp tục làm nhiệm vụ giao liên cho lực lượng Biệt động thành Sài Gòn. Một lần vào đầu năm 1962, chị nhận nhiệm vụ mang kíp nổ đến một địa chỉ ở quận 10, nhưng sau lần ấy, chị được cơ sở của ta thông báo là chị đã bị tình nghi. Ngay sau đó, chị báo cáo với cấp trên và được tổ chức cho quay lại quê nhà để tiếp tục hoạt động hợp pháp.

Trở lại quê nhà ở thôn Đông Hòa, xã Điện Thọ, chị đã tìm một mảnh đất ở chợ Đông Quan để mở tiệm may và tổ chức ngay tại đây một trạm giao liên. Những lúc tình hình yên ổn thì thư từ, chỉ thị từ chiến khu chuyển về khu vực Hòa Vang và 6 xã vùng cát của huyện Điện Bàn đều do các anh nam giới phụ trách. Những lúc tình hình căng thẳng thì chị được phân công mang thư hỏa tốc từ chiến khu gửi về bằng con đường nhanh nhất chuyển đến cho cơ sở ở các xã Điện Nam, Điện Ngọc và Hòa Vang... Với những thành tích và lòng nhiệt thành với cách mạng, tháng 10 năm 1963, chị được vinh dự đứng vào hàng ngũ của Đảng.

Năm 1964, tình hình bắt đầu căng thẳng, địch quyết liệt dồn dân vào các ấp chiến lược để dễ bề quản lý và tận diệt những mầm mống yêu nước ở địa phương. Chị nhớ lại, lúc ấy địch lùng sục ráo riết, hễ phát hiện ai có dấu hiệu theo cách mạng là chúng trừ khử ngay, rất nhiều kiểu thủ tiêu man rợ đã được chúng áp dụng nhằm diệt trừ và khủng bố lòng yêu nước của đồng bào ta. Trước tình cảnh ấy, lãnh đạo Huyện đội Điện Bàn đã quyết định đưa lực lượng đến phối hợp với du kích của xã Điện Thọ đánh vào các đồn lính bảo an và dân vệ của địch. Sau một trận đánh lớn, ta có 8 đồng chí bị thương.

Chị Chính được các anh giao nhiệm vụ băng bó vết thương, tiếp tế cháo, sữa và bố trí ẩn nấp trong một bãi mía để chờ lúc trời tối sẽ có người mở đường đưa các đồng chí thương binh ấy ra vùng giải phóng. Khoảng hơn 7 giờ sáng, khi chị đang may áo quần ở chợ Đông Quan thì nghe tiếng xe tăng của địch hành quân ầm ầm nhằm vào hướng quê chị. Tiếp đó là tiếng người dân í ới gọi nhau chạy loạn vì sợ đoàn xe tăng này sẽ nổ súng vào làng. Nhìn về hướng đường cái, chị thấy có đến 4-5 chiếc chạy đầu tiên đã vượt từ quốc lộ 1 qua khỏi đường ray xe lửa, rồi tiến thẳng về phía bãi mía nơi có 8 thương binh đang ẩn nấp. Ngay lập tức chị lao tới, dang hai tay chặn đoàn xe tăng rồi gào khóc thảm thiết: "Các anh ơi, cha mẹ em bị các anh pháo kích chết hết, em còn một bầy em dại đang đói rách đứng khóc ở trong kia, các anh mà cán mía của em thì mấy đứa em của em chết đói hết...".

Chị càng gào khóc thì xe tăng địch càng lao tới. Đến lúc xe tăng tiến gần đến đám mía thì chị nằm ngang xuống mặt đường với ý nghĩ nếu xe tăng có cán chết chị thì người dân sẽ ùa ra để phản đối, lúc ấy những thương binh trong đám mía hy vọng sẽ được an toàn. Thấy chị nằm ngang chắn đường hành quân, đoàn xe tăng của địch dừng lại, mấy tên lính từ trên xe nhảy xuống, dùng dùi cui đánh chị tới tấp. Đau đớn là thế mà chị vẫn ngẩng cao gương mặt thanh xuân để gào khóc thê thiết trước làn roi của kẻ thù. Chợt chị nhìn thấy một tên mang súng ngắn, đoán chắc đây là viên chỉ huy hành quân, nhanh như cắt, chị ngồi dậy rồi nhảy xổ đến ôm chầm lấy hắn than khóc, giãi bày "Anh ơi! Anh cứu em với, cứu mấy đứa em của em với...".

Tên chỉ huy nghiêm nét mặt hỏi: "Có phải cộng sản biểu mày làm việc này không?". Chị trả lời rằng "Cả làng này ai cũng biết hoàn cảnh của em, em là thợ may trong chợ chứ có biết chi ai là cộng sản...". Nghe lời van nài của chị, tên chỉ huy vẫy tay cho đám thuộc hạ tiếp tục hành quân theo hướng khác. Sau lần ấy, chị thở phào nhẹ nhõm khi bất ngờ hoàn thành xuất sắc một nhiệm vụ mà trước đó chẳng ai nghĩ tới và cũng chẳng ai giao cho chị. Tinh thần bất khuất của người con gái thôn Đông Hòa được tổ chức cách mạng địa phương đánh giá rất cao. Chiều hôm ấy, khi mặt trời khuất xa sau rặng núi, xóm làng yên bình hơn vì vắng bóng giặc đi càn. Chị đến tiếp tế, cháo sữa và băng bó lại vết thương cho các anh để những cơ sở của ta tổ chức đưa 8 thương binh ra vùng giải phóng an toàn.

Một lần, chị nghe anh em du kích bàn tán với nhau tìm cách để lấy súng địch đánh lại địch thì hiệu quả chiến đấu sẽ cao hơn. Vậy là chị quyết tâm sẽ thực hiện cho bằng được cái công việc mà nhiều người đang suy nghĩ. Được anh Lý Quý, lúc đó là Bí thư Huyện ủy Điện Bàn động viên, khích lệ, chị bám chặt một tiểu đội lính ngụy để nắm rõ quân số địch. Trong một trận giao tranh giữa tiểu đội ngụy này với du kích địa phương, có một tên bị trúng đạn ở tay gục xuống bên bờ ruộng, chị Chính đã nhanh trí ôm một nắm rơm chạy đến phủ lên cánh tay của tên lính ngụy bị thương để lấy khẩu súng AR15 mang về giao cho du kích trước sự thán phục của các anh.

(Còn nữa)     

PHAN BÙI BẢO THY 

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=267999

GẦN 20 NĂM TRƯỚC VÀ BÂY GIỜ
baothy | 03 Nov, 2010, 12:11 | Chung | (234 Reads)
GẦN 20 NĂM TRƯỚC VÀ BÂY GIỜ

   Gần 20 năm trước, nguyễn Minh Sơn (Hoa Ngõ Hạnh) được giải thưởng truyện ngắn của Báo Văn Nghệ. Mình với Nguyễn Đình Tuấn đưa Sơn ra Hà Nội nhận giải. Những ngày đó, 3 thằng lang thang khắp chốn Hà Thành. Nay tìm được mấy bức ảnh cũ, đưa lên đây để bà con xem chơi...

  
    Mình với Nguyễn Minh Sơn (nhà văn Hoa Ngõ Hạnh) ở Hà Nội gần 20 năm trước

  
   Mình với Nguyễn Đình Tuấn - ảnh chụp gần 20 năm trước

  
    3 thằng mình chụp trên đường ra khu du lịch Suối Vàng - Đà Lạt tháng 9-1010

  
   3 thằng mình chụp với Phó Đạo diễn Lê Quang (áo xanh thứ 2 từ trái qua) trong một quán lẩu rau ở Đà Lạt - 9-2010

  
    Mình chụp với EMERY một người bạn Mỹ lang thang với bọn mình mấy ngày ở Đà Lạt

  
   chân dung của mình do Hoa Ngõ Hạnh chụp ở Đà Lạt - 9-2010

  
   Cái này do Họa sỹ Trần Đỗ Nghĩa chụp cho mình

  
   Cánh rừng sau lưng mình không xa nữa sẽ là làng nghề của những người khuyết tật ở Lâm Đồng

  
    Đường vào Khu du lịch Suối Vàng đã được làm rất đẹp

  
    Sau mấy ngày cuối tuần bù khú, mình & Sơn bay về Đà Nẵng (ảnh này do Họa sỹ Trần Đỗ Nghĩa chụp ở phi trường Liên Khương) 
Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=266348

NỔI CHÌM MANH ÁO MIẾNG CƠM
baothy | 19 Oct, 2010, 10:36 | Chung | (100 Reads)

NỔI CHÌM MANH ÁO MIẾNG CƠM
Phóng sự: Phan Bùi Bảo Thy

Bên cạnh những con đường, những dãy phố sầm uất, dưới chân những chiếc cầu bê tông, cầu dây võng hiện đại và đẹp đến mê hồn ở Đà Nẵng là những khúc sông, mặt vịnh suốt bốn mùa lao xao sóng nước. Ở đó, mỗi ngày có đến hàng trăm con người đủ mọi lứa tuổi, từ sáng tinh mơ cho đến xế chiều bất luận nắng mưa, họ cần mẫn ngâm mình dưới dòng nước đục để mò nghêu kiếm sống, bất chấp mọi hiểm nguy đang chực chờ họ từ thế giới của thủy thần...

Cuối tuần vừa rồi, tôi nhận làm hướng dẫn cho mấy anh bạn đồng nghiệp ở làm truyền hình thực hiện những cảnh quay cuối cùng cho một phim tài liệu về Vịnh Tiên Sa.  Chỉ cách chiếc cầu dây võng Thuận Phước độ vài mươi bước chân, trong cái nắng oi ả đến nhức mắt, tôi đã gặp và trò chuyện với những người ngày ngày vẫn thường đến đây, ngâm mình trong dòng nước để mò nghêu kiếm sống.

Vợ chồng chị Lê Thị Bảy, trú phường Thọ Quang, quận Sơn Trà, TP. Đà Nẵng là một trong số những người có thâm niên làm nghề mò nghêu ở vùng đất này. Chị Bảy cho biết: Vào mùa nghêu nhiều, mỗi ngày hai vợ chồng chị chăm chỉ mò cũng được gần chục ký lô, mỗi ký nghêu thời giá hiện tại là gần 30.000 đồng (Vùng Vịnh Đà Nẵng chủ yếu là nghêu non, bắt bán cho chủ bãi nghêu làm giống). Những thời điểm khan hiếm nghêu non thì mỗi ngày chỉ mò bắt được đôi ba ký là nhiều.

- Ở đây có nhiều người đi mò nghêu non như anh chị không?

- Nhiều, chị Bảy đáp. Từ vùng cầu Thuận Phước này kéo dài cho đến Xuân Thiều, mỗi ngày bình quân cũng có đến cả trăm người làm nghề mò nghêu. Già, trẻ, lớn, bé đều có cả. Nói chung là những người nghèo, không có nghề nghiệp ổn định, nên phải chọn nghề này để làm kế mưu sinh...

Thấy tôi đứng nói chuyện với chị Bảy, nhiều đứa trẻ độ mười ba, mười bốn tuổi, mỗi đứa trên tay cầm một cái bao cũng hiếu kỳ chạy lại. Tôi quay sang hỏi: Các cháu cũng đi mò nghêu à? Tất cả đồng thanh trả lời: Dạ...

Chị Bảy chỉ cho tôi từng đứa, rồi giới thiệu về gia cảnh của chúng cho tôi nghe. Nhìn những mái tóc đỏ hoe, những làn da sạm nắng của những đứa trẻ ngày ngày phải dành thời gian rảnh rỗi của mình để mò nghêu non mang bán kiếm tiền giúp gia đình chi tiêu trong cuộc sống, tự dưng tôi thấy chạnh lòng cho cái tuổi ăn, tuổi ngủ, tuổi chơi, tuổi học, tuổi được nâng niu chìu chuộng mà các em phải sớm dấn thân vào guồng quay kiếm sống đầy rủi may, nắng nôi, rét mướt này...

Thấy vợ vẫy tay, chồng chị Bảy xốc lại bao nghêu non đã bắt được rồi rẽ nước lên bờ.

- Được có nhiều không anh?

- Mùa này ít lắm, với lại nghêu bị chết cũng nhiều nên thấy vậy chứ đến lúc lựa lại chẳng được là bao.

Rất nhiều người phải kiếm sống bằng nghề mò nghêu

Vừa trả lời tôi, chồng chị Bảy vừa đưa bàn tay sũng ướt run run đón lấy điếu thuốc lá tôi mời. Tôi bật lửa cho anh ta châm thuốc hút. Rít một hơi thật sâu, rồi anh hướng đôi mắt mệt mỏi về phía Vịnh Đà Nẵng mênh mông sóng nước mà buồn buồn kể chuyện:

- Ngày trước vợ chồng cũng là cán bộ công nhân viên, khi đất nước chuyển sang một thời kỳ mới với nhiều yêu cầu, đổi thay về năng lực, trình độ. Vả lại Cty lúc đó làm ăn cũng thua lỗ kéo dài nên dần dà rồi cũng giải thể luôn, cơ quan không còn, chế độ cũng được chẳng bao nhiêu, việc làm không kiếm được nên mình phải gặp cảnh long đong, lận đận...

Cái nghề mò bắt con nghêu này cũng đến với gia đình như một tình cờ của số phận thôi. Lúc đầu do gia cảnh túng bấn, mình đi mò bắt nghêu về để cải thiện thêm cho các cháu trong bữa ăn. Vào vụ nghêu sinh sản nhiều, bắt về gia đình ăn không hết, mẹ chúng nó mới mang ra chợ bán cho đỡ tiếc. Thấy cũng có đồng ra, đồng vào, vậy là vợ chồng bắt tay với nghề này từ đó cho đến nay...

Ngược dòng sông Hàn một đoạn không xa, ngay khu vực dưới chân cầu Tuyên Sơn cũng là một địa chỉ kiếm cơm của hàng trăm người dân đang cư ngụ tại phường Khuê Mỹ, quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng. Cứ sáng sáng, những người dân trong phường lại lục tục đạp xe kéo nhau nhằm hướng bờ sông mà tiến. Dụng cụ hành nghề của họ cũng vô cùng đơn giản, chỉ có cái thau, cái rổ, một cái cào tay, một cái bồ hụp làm bằng thanh tre có miếng tôn mỏng uốn hình chữ U (dùng để cào vét, thường chỉ những người đàn ông có sức khỏe mới sử dụng). Đến bờ sông, mỗi người chia nhau một hướng, trầm mình xuống dòng sông quê hương để kiếm tìm sự sống hàng ngày. Những người có thâm niên mò bắt nghêu ở đây (nghêu ở đoạn sông này là nghêu đã trưởng thành, nên bắt về chỉ bán cho người sử dụng) cho biết:

- Ngày trước, vùng này rất nhiều nghêu, mỗi ngày siêng năng có người mò bắt được cả tạ, giá cả cũng được, nên có nhiều gia đình nhờ nghề bắt nghêu này mà có cái ăn, cái mặc, có tiền để mua sắm đồ đạc, lo cho con cái học hành... bây chừ giá nghêu cao, nhưng đổi lại thì nhiều người đi bắt nên thu hoạch tính bình quân đầu người là không nhiều. Nói chung là một ngày làm chỉ đủ chi tiêu trong gia đình ở mức tiết kiệm.

Anh Nguyễn Văn Hùng, một trong số những người làm nghề bắt nghêu lâu năm ở phường Khuê Mỹ kể với tôi rằng: Cực chẳng đã! Chẳng biết làm chi mới chọn nghề này kiếm sống. Anh thấy đó, giữa một biển nước mênh mông như thế, có ai biết điều gì đang chực chờ để giáng xuống số phận của mình đâu. Nhiều người ở đây, trong lúc mò nghêu đã dẫm phải dây thép gai, mảnh chai, cọc nhọn... Mùa mưa gió, có ngày con nước lên cao, dòng chảy mạnh nó lùa cả thân người mình đi ra xa trong tình cảnh chới với... Thanh niên trai tráng như tụi em còn đỡ, chứ như cô Ba, cô Chín đang mò ở đằng kia đó, đã trên bảy mươi tuổi đầu rồi mà ngày nào cũng phải ngâm mình trong nước lạnh, dưới nắng nóng đến vài giờ đồng hồ. Có người khi đưa thân mình lên được khỏi mặt sông là toàn thân tê cứng, bước đi xiêu vẹo, thậm chí là ngất lịm đi vì đói và mệt...

- Sao không chọn việc khác để làm?

Chị Mai Thị Mỹ ở tổ 3, phường Khuê Mỹ nói rằng:

- Biết là nguy hiểm, biết là làm nghề này sức khỏe mình sa sút rất nhanh, nhưng biết làm gì bây giờ, chỉ có nghề mò bắt nghêu là nghề không có vốn, ngày nào bắt được nhiều thì được nhiều tiền, ngày nào bắt được ít thì ít tiền, những lúc đau yếu nằm bẹp dúm ở nhà thì thôi...Khổ lắm, nhưng không làm thì biết lấy gì để sống, trong khi gia đình lại có đếm năm, sáu miệng ăn...

Có những cụ bà đã ngoài thất thập vẫn ngày ngày ngâm mình cào nghêu kiếm sống

Tôi đem chuyện những người phụ nữ già có, trẻ có ngày ngày phải ngâm mình trong nước để mò bắt nghêu non cũng như nghêu thương phẩm bán cho những người có nhu cầu để kiếm tiền sinh sống kể với một người bạn là bác sỹ đang công tác ở Khoa sản Bệnh viện Đà Nẵng. Như đặt vấn đề đúng chỗ, bạn tôi buồn buồn nói rằng: Đó là những người khốn khổ nhất đấy ông ạ! Đàn ông làm nghề này còn đỡ, chứ chị em phụ nữ, bất kể trẻ hay già làm nghề nàu đều mắc bệnh phụ khoa hết. Có người khi đau quá mới tìm đến bệnh viện mới hay là bệnh đã quá nặng. Họ là những người quá nghèo, vì thế hàng ngày việc họ quan tâm nhất là tìm kiếm cái ăn, cái mặc, chứ thì giờ đâu họ nghĩ đến chuyện bệnh tật, chuyện phải đi khám bác sĩ để xin lời khuyên chữa trị...

Chúng tôi lại mơ màng nghĩ về một tương lai không còn xa nữa, những tổ chức xã hội sẽ cùng với địa phương sắp xếp cho những con người khốn khó này có cơ hội học nghề và hành nghề; các quỹ xóa đói giảm nghèo cần quan tâm nhiều hơn đến họ, để họ sớm giải nghệ cái nghề nhiều rủi hơn may này...

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=263181

1 2 3 4 5 6 7 8  Sau»